Làng cau Cao Nhân là tên người Hải Phòng gọi một vùng làng ở Thuỷ Nguyên cũ có truyền thống trồng cau quanh vườn, quanh ao, quả cau và lá trầu đi theo các mâm lễ cưới hỏi, lễ Tết ở vùng ven đô. Sản vật ở đây không phải một món ăn mà là cây cau: buồng cau xanh cho lễ ăn hỏi, quả cau non cho người còn giữ tục ăn trầu, thân và mo cau cho đồ dùng trong nhà.
Tư liệu viết về riêng làng cau này không nhiều; phần lớn những gì bài này kể về Cao Nhân dựa vào lời người địa phương và hình ảnh vườn cau quen thuộc của châu thổ Bắc Bộ. Phần về cây cau, quả cau và tập quán trầu cau thì có thể đối chiếu với kiến thức thực vật và tư liệu văn hoá rộng hơn. Bài cũng nói thẳng về điều mà người yêu trầu cau ít muốn nghe: hạt cau đã được giới y khoa xếp vào nhóm gây ung thư.
Cây cau trong vườn làng Bắc Bộ
Cây cau, tên khoa học Areca catechu, là một loài cau dừa thân cột, thẳng, không phân nhánh, có thể cao hơn mái nhà hai tầng. Thân cau có những đốt ngang như vết khắc, mỗi đốt là chỗ một tàu lá cũ đã rụng. Trên ngọn, tàu lá xoè ra như chiếc lông chim lớn; ngay dưới tán, những buồng hoa rồi buồng quả mọc ra từ nách bẹ lá.
Ở các làng châu thổ, cây cau thường được trồng thành hàng dọc lối đi, bờ ao, quanh sân. Cau ít chiếm đất vì thân mảnh, tán cao, bóng thưa nên dưới gốc vẫn trồng được rau, khoai. Người xưa trồng cau cùng giàn trầu không leo lên thân cây khác, để "cau với trầu" luôn có sẵn trong vườn.
Lá trầu không, bạn đồng hành của quả cau, là cây dây leo ưa bóng, lá hình tim, mặt lá bóng, vò ra có mùi hăng cay. Ở các làng trồng cau, giàn trầu thường dựng ở góc vườn râm, gần chum nước, vì trầu cần ẩm. Người bán cau ở chợ quê ngày trước hiếm khi bán cau mà không kèm vài xấp lá trầu.
Theo người địa phương kể, vùng Cao Nhân xưa có nhiều nhà trồng cau với số lượng lớn hơn hẳn nhu cầu trong nhà, quả cau bán đi các chợ ven đô và nội thành Hải Phòng. Thuỷ Nguyên nằm bên bờ bắc sông Cấm, đất thịt pha phù sa, ẩm, gió biển thổi vào nhưng được các dãy núi đá thấp che một phần, những điều kiện mà cây cau ưa: đất thoát nước, đủ ẩm, nắng nhiều.
Quả cau: từ hoa cau đến cau già
Hoa cau nở thành chùm trắng ngà, thơm nhẹ, rụng lả tả xuống sân vào mùa xuân, sang hè. Hoa đực nhỏ, nhiều, rụng sớm; hoa cái to hơn, đậu thành quả. Nhiều làng còn hứng hoa cau để ướp chè, cách làm tương tự ướp chè hoa sen, hoa nhài, cho nước chè thoảng mùi hoa cau.
Quả cau non vỏ xanh bóng, hình trứng, cuống tươi. Bổ đôi ra thấy lớp xơ mỏng màu trắng bao lấy ruột; ruột cau non mềm, trắng ngà, có vân hồng nâu, vị chát. Đây là lứa cau người ăn trầu thích nhất. Cau để già trên cây thì vỏ chuyển vàng cam, xơ dày, ruột cứng lại như gỗ, người ta để làm giống hoặc bổ ra phơi khô thành cau khô.
Cau khô là phần ít người thành phố biết đến. Quả cau già bổ đôi hoặc bổ tư, phơi nắng nhiều ngày cho đến khi ruột khô cứng, màu nâu đỏ, gõ vào nghe cạch cạch. Cau khô nhẹ, để được lâu, ngày trước được thu gom ở các chợ quê để bán đi xa. Người làng phơi cau trên nong, trên sân gạch, thỉnh thoảng đảo cho khô đều, tránh mưa để cau không mốc.
Người trồng cau phân biệt buồng cau cho lễ và quả cau cho ăn. Buồng cau dùng cho lễ ăn hỏi cần quả đều, xanh, sáng màu, không dập, cuống tươi, buồng cân đối. Quả cau để ăn trầu thì chú ý ruột: mềm, ít xơ, không quá già. Vì vậy, hái cau là việc cần mắt, không chỉ là trèo lên chặt buồng.
Hái một buồng cau: công việc của người trồng
Cây cau cao và thân trơn, hái cau là việc có rủi ro ngã. Người làng có kinh nghiệm thường làm theo trình tự dưới đây; đây là mô tả để hiểu nghề, không phải hướng dẫn để người không quen tự trèo.
- Quan sát từ dưới đất: chọn buồng đã đủ độ theo mục đích (non cho ăn, đều quả cho lễ), xem thân cây có mục, nứt hay không.
- Chuẩn bị dây: người trèo dùng vòng dây quàng chân hoặc đai lưng để bám vào thân, một số nơi dùng thang tre buộc tạm vào thân cau.
- Trèo lên, giữ người ổn định, cắt buồng ở phần cuống sát bẹ.
- Thả buồng xuống bằng dây, không để rơi tự do; buồng cau rơi xuống đất thì quả dập, không còn dùng cho lễ được.
- Lau sạch, tỉa quả hỏng, để buồng nơi râm mát; cau cho lễ cưới thường được hái gần ngày dùng để giữ màu xanh.
Ngày nay, nhiều nơi thuê người chuyên trèo hái theo mùa cưới. Tai nạn ngã cây cau vẫn xảy ra hằng năm ở các làng quê, nên người già trong làng luôn dặn: không trèo cau khi thân ướt, khi gió to, và không trèo một mình.
Buồng cau trong mâm lễ cưới hỏi
Trong lễ ăn hỏi ở Bắc Bộ, mâm trầu cau gần như luôn đứng đầu các tráp lễ. Câu nói "miếng trầu là đầu câu chuyện" phản ánh vai trò của nó: trầu cau là lời mở đầu, là thứ nhà trai mang sang để ngỏ lời, nhà gái chia cho họ hàng, làng xóm như cách báo tin. Cau chọn cho lễ phải xanh, đều, đẹp, vì người ta nhìn mâm cau để đoán sự chu đáo của nhà trai.
Câu chuyện dân gian Sự tích trầu cau, kể về hai anh em và người vợ hoá thành cây cau, dây trầu, tảng đá vôi, là lời giải thích quen thuộc nhất cho việc trầu cau đi cùng hôn nhân. Đây là truyện cổ, không phải sử liệu, nhưng nó cho thấy trầu, cau và vôi đã gắn với nhau trong đời sống người Việt từ rất lâu.
Với một làng trồng cau như Cao Nhân, mùa cưới là mùa của buồng cau. Người làng kể những tháng cuối năm âm lịch, khi các đám cưới dồn dập, cau đẹp được hỏi trước, có khi đặt từ khi buồng còn trên cây. Một buồng cau đều quả, xanh mướt bày trên tráp đỏ vẫn là hình ảnh khó thay bằng thứ gì khác, kể cả khi ngày nay rất ít người ăn trầu.
Cau trong ca dao và câu nói của người làng
Ít cây trong vườn Việt được nhắc trong ca dao nhiều như cây cau. Câu "Thương nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười" dùng chính cách bổ quả cau để nói chuyện tình cảm: quả cau nhỏ, bổ ba là miếng to, đậm tình; bổ mười là miếng mỏng như lá lúa, lấy lệ. Câu ca này chỉ có nghĩa với người từng cầm con dao bổ cau và biết một quả cau to nhỏ cỡ nào.
Trong thơ hiện đại, hàng cau cũng là hình ảnh của làng. Câu "Nắng hàng cau nắng mới lên" trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử được nhiều thế hệ học sinh thuộc lòng, dù đó là cau xứ Huế chứ không phải cau Hải Phòng. Hình ảnh nắng sớm chiếu lên những thân cau thẳng, lá cau bóng loáng sau đêm sương là cảnh quen ở mọi làng có hàng cau, từ Bắc vào Trung.
Ở làng trồng cau, những hiểu biết về cây cau phần lớn truyền miệng: hàng cau sát bờ ao thường xanh tốt hơn cau trên gò cao vì đủ ẩm; buồng cau đẹp nhất trong năm hay được để dành cho mùa cưới cuối năm; cây cau già, thân có vết nứt thì không ai dám trèo. Những điều ấy không ghi chép ở đâu, chỉ sống trong lời người già, và cũng như hàng cau, chúng thưa dần khi vườn làng thu hẹp.
Ăn trầu: tập quán và lời cảnh báo y khoa
Miếng trầu truyền thống gồm lá trầu không quệt vôi, một miếng cau, có nơi thêm vỏ cây chát. Nhai lên, miếng trầu cho cảm giác nóng ấm, hơi say nhẹ, nước bọt đỏ; người ăn trầu lâu năm có hàm răng nhuộm đen đỏ. Ngày trước, mời trầu là phép lịch sự khi khách đến nhà; ngày nay, ở nhiều vùng châu thổ, chỉ còn một số cụ bà giữ thói quen này.
Cần nói rõ: Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp hạt cau và miếng trầu có cau vào nhóm tác nhân gây ung thư cho người, với bằng chứng rõ nhất về ung thư khoang miệng. Thói quen ăn trầu kéo dài còn liên quan tới xơ hoá niêm mạc miệng. Đây không phải chuyện "ăn ít thì không sao" mà là nguy cơ tích luỹ theo năm tháng.
Vì thế, bài viết về một làng cau không cổ xuý việc ăn trầu. Cây cau, buồng cau, mâm trầu cau trong lễ cưới là một phần văn hoá đáng giữ; miếng trầu trong miệng là một thói quen nên để lại cho quá khứ. Người lớn tuổi đang ăn trầu nên đi khám răng miệng định kỳ và báo cho bác sĩ thói quen này khi có vết loét, mảng trắng hay đỏ lâu lành trong miệng.
Thân cau, mo cau và nghề giữ vườn hôm nay
Cây cau không chỉ cho quả. Mo cau, phần bẹ ôm lấy buồng hoa, khi rụng xuống được nhặt về phơi, uốn làm gàu múc nước, quạt mo, có nơi làm khay đựng thức ăn. Thân cau già hạ xuống làm cột, làm cầu ao, làm máng. Tàu lá khô đun bếp. Trong một nền kinh tế vườn tự cung tự cấp, gần như không có phần nào của cây cau bị bỏ đi.
Ngày nay, vườn cau ở vùng ven đô Hải Phòng chịu sức ép như mọi khu vườn làng: đất lên giá, nhà cửa mọc lên, cây cau bị chặt bớt để mở rộng sân, làm nhà. Ăn trầu gần như không còn, nhu cầu cau chủ yếu dồn vào mùa cưới và Tết. Một số nhà vẫn giữ hàng cau vì cảnh vườn, vì tiếng gọi của làng cau, hơn là vì thu nhập.
Với người con Thuỷ Nguyên xa quê, hình ảnh còn lại thường là một hàng cau thẳng tắp bên ao, buồng hoa trắng rụng xuống mặt nước, và những ngày cuối năm người lớn trong nhà trèo lên chọn buồng cau đẹp nhất để mang sang nhà gái. Giữ được hàng cau ấy là giữ được một phần dáng làng.
Câu hỏi thường gặp
Làng cau Cao Nhân nay thuộc đâu?
Cao Nhân thuộc vùng Thuỷ Nguyên cũ ở bờ bắc sông Cấm, thành phố Hải Phòng. Sau khi bỏ cấp huyện và sắp xếp lại xã phường từ năm 2025, tên đơn vị hành chính đã thay đổi; tên Cao Nhân hiện được dùng như tên làng, tên vùng.
Cau cho lễ ăn hỏi nên chọn thế nào?
Người làng chọn buồng cau quả đều, vỏ xanh sáng, không dập, không vết sâu, cuống tươi, hái gần ngày dùng để giữ màu. Số quả và cách bày tuỳ phong tục từng địa phương và từng gia đình, nên hỏi người lớn tuổi bên nhà gái.
Ăn trầu cau có hại không?
Có. Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế đã xếp hạt cau và miếng trầu có cau vào nhóm gây ung thư cho người, rõ nhất là ung thư khoang miệng. Người đang ăn trầu nên khám răng miệng định kỳ và đi khám khi có vết loét hay mảng trắng đỏ lâu lành.
Hoa cau dùng làm gì?
Hoa cau thơm nhẹ, ngày trước được hứng để ướp chè, theo cách ướp tương tự chè sen, chè nhài. Hoa cau rụng cũng là dấu hiệu người trồng theo dõi để biết cây sắp vào mùa quả.
Mo cau ngày xưa dùng làm gì?
Mo cau phơi khô được uốn thành gàu múc nước, quạt mo, khay đựng đồ ăn, có nơi làm đồ chơi cho trẻ kéo nhau trên sân. Đây là vật liệu tự nhiên, bền, sẵn có trong vườn.
Cây cau trồng bao lâu thì có quả?
Thời gian từ khi trồng đến lúc ra buồng đầu phụ thuộc giống, đất và cách chăm, thường mất vài năm. Người trồng cau lâu năm nói cau trồng nơi đất tốt, đủ nắng ra quả sớm và đều hơn cau trồng chen dưới bóng cây khác.