Có loại na bóc vỏ được như bóc cam, cầm tay ăn từng múi mà không lem tay, và người miền xuôi hay gặp nó lần đầu ở một sạp quả ven quốc lộ qua xứ Lạng. Na Chi Lăng là na trồng trên vùng núi đá vôi Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, nơi cây na mọc chen giữa những khối đá xám, rễ len vào khe đá. Quả chín từ khoảng tháng Bảy tới tháng Chín; vùng này có cả na dai cùi chắc, bóc vỏ được, và na bở mềm, mắt mở khi chín. Na ở đây nổi tiếng vì cùi dày, ngọt đậm, thơm.
Chi Lăng quen thuộc với người đọc sử qua tên ải Chi Lăng, con đường hẹp giữa núi trên tuyến Lạng Sơn về xuôi. Ngày nay, cũng trên những sườn núi đá ấy, cây na đã thay cây ngô, cây sắn ở nhiều nơi, và mùa na thành mùa của cả vùng.
Chỗ lạ của sản vật này là đất trồng: một cây ăn quả cho trái ngọt đậm lại mọc tốt nhất trên những sườn đá tai mèo gần như không có đất, nơi trước kia người ta chỉ trỉa được vài hốc ngô. Mỗi gốc na trên núi là một hốc đất người trồng gùi lên, và mùa na là thành quả của những bàn tay ấy hơn là của riêng thổ nhưỡng.
Cây na trên núi đá vôi
Đất trồng na ở Chi Lăng không giống những vườn cây ăn quả đồng bằng. Nhiều vườn nằm trên sườn núi đá vôi, đá tai mèo lởm chởm, đất chỉ có trong các hốc, khe giữa đá. Người trồng tìm những hốc đất ấy để đặt cây, bồi thêm đất, phân chuồng, và để rễ cây tự len sâu vào khe đá tìm nước. Từ xa nhìn lại, cả sườn núi xám điểm những tán na xanh.
Cây na là cây chịu hạn khá tốt, ưa nắng, không chịu úng. Núi đá vôi thoát nước nhanh, đá hấp thụ nhiệt ban ngày và toả ra ban đêm. Người trồng na lâu năm tin rằng chính đất đá vôi giàu canxi và điều kiện khô thoáng làm quả na ở đây cùi chắc, ngọt đậm. Đây là kinh nghiệm của người trồng, cũng phù hợp với hiểu biết chung rằng cây ăn quả trồng trên đất thoát nước tốt, đủ nắng thường cho quả chất lượng.
Chi Lăng ngày nay không còn là đơn vị hành chính cấp huyện; sau năm 2025 nó là tên vùng của tỉnh Lạng Sơn. Na cũng được trồng ở nhiều nơi khác trong tỉnh và ở các tỉnh lân cận, nhưng vùng núi đá dọc tuyến quốc lộ qua Chi Lăng là nơi tập trung và nổi tên nhất.
Ải Chi Lăng: sử liệu và mùa quả
Ải Chi Lăng được nhắc trong sử như một cửa ải hiểm yếu trên đường từ biên giới về Thăng Long. Sử ghi lại những trận đánh lớn ở đây, nổi tiếng nhất là trận Chi Lăng năm 1427 trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, khi quân của Lê Lợi chặn đánh viện binh nhà Minh, tướng Liễu Thăng bị giết. Đó là phần sử liệu có ghi chép rõ ràng.
Giữa những ngọn núi từng là chiến địa ấy, cây na không có lịch sử lâu đời như tên ải. Theo lời kể của người trồng, na được trồng thành vườn ở Chi Lăng mạnh lên trong vài thập kỷ gần đây, khi người dân thấy cây na hợp với núi đá hơn cây lương thực. Không có giai thoại "tiến vua" nào gắn với na Chi Lăng, và cũng không cần: danh tiếng của nó đến từ chính chất lượng quả.
Ngày nay, du khách đi qua Chi Lăng vào mùa hè thường dừng xe ở những sạp na bên đường, nơi người trồng bày những sọt quả vừa hái. Khung cảnh đường đèo, núi đá và những rổ na xanh là một phần của mùa hè xứ Lạng.
Người bán ở các sạp ven đường thường là chính chủ vườn hoặc người nhà, ngồi dưới tấm bạt che nắng, bên cạnh những sọt na phân theo cỡ. Khách có thể nhìn thấy sườn núi đá trồng na ngay phía sau lưng người bán. Cảnh mua bán ấy kéo dài suốt mùa na rồi biến mất khi hết quả, để lại con đường đèo trở về với dáng vẻ yên ắng thường ngày.
Na dai và na bở
Người Chi Lăng phân biệt hai loại na chính. Bảng dưới đây so sánh theo những gì người ăn có thể nhận ra.
| Đặc điểm | Na dai | Na bở |
|---|---|---|
| Hình quả | Mắt na to, dẹt, ít lồi, khi chín vẫn khít | Mắt na nhỏ hơn, lồi, khi chín các mắt nở ra, có khe |
| Vỏ khi chín | Xanh nhạt hoặc xanh vàng, có thể bóc vỏ như bóc cam | Mềm, dễ nứt, bẻ đôi quả chứ không bóc vỏ |
| Cùi | Chắc, dai, ăn giòn sần sật, ít nước | Mềm, mọng, tan trong miệng, nhiều nước |
| Vị | Ngọt đậm, thơm | Ngọt, thơm, có người thấy ngọt dịu hơn |
| Để được | Lâu hơn, ít dập khi vận chuyển | Mau chín nẫu, dễ dập |
Mỗi loại có người thích riêng. Na dai được ưa vì cùi chắc, ăn không lem nhem, để được lâu; na bở được những người thích độ mềm mọng tìm. Ở Chi Lăng, nhiều vườn trồng cả hai, và trong vườn còn có những cây na lai giữa hai loại với đặc điểm ở giữa.
Một năm trong vườn na
Khung chung theo kinh nghiệm vùng Chi Lăng; từng năm và từng vườn có thể lệch vài tuần.
| Thời điểm | Cây na | Người trồng |
|---|---|---|
| Tháng Một đến tháng Hai | Cây rụng lá, nghỉ trong mùa lạnh khô | Cắt tỉa cành, dọn vườn, bón phân |
| Tháng Ba đến tháng Năm | Ra lộc, ra hoa nhiều đợt | Nhiều vườn thụ phấn bổ sung bằng tay vào sáng sớm |
| Tháng Năm đến tháng Bảy | Quả lớn dần | Bao quả ở một số vườn để tránh sâu, giữ vỏ đẹp |
| Tháng Bảy đến tháng Chín | Quả chín rộ | Thu hoạch, bày bán ven đường, đóng thùng chở đi |
| Tháng Mười đến tháng Mười Hai | Cây tích dinh dưỡng, lá già | Chăm sóc sau thu hoạch, chuẩn bị mùa sau |
Thụ phấn bổ sung là một việc tỉ mỉ mà người trồng na nhiều vùng đã áp dụng: hoa na có cơ chế khiến nhuỵ và phấn không chín cùng lúc, nên tự thụ phấn kém. Người làm vườn thu phấn từ những hoa đã tung phấn rồi dùng chổi nhỏ quét vào nhuỵ hoa khác. Quả được thụ phấn đều thì tròn, cân đối, ít bị méo.
Một buổi sáng thụ phấn cho na
Mùa hoa na ở Chi Lăng, việc bận nhất của người trồng diễn ra lúc sớm tinh mơ, khi sương còn trên đá. Người làm vườn mang theo một chiếc lọ nhỏ hoặc hộp nhựa có nắp, một cây bút lông hay chổi nhỏ làm từ lông gà, và đi một vòng qua những cây có hoa đã nở hẳn, cánh hoa dày đã tách ra. Họ gõ nhẹ hoặc bóp hoa trên miệng lọ để rũ phần phấn vàng nhạt rơi xuống, gom dần từ nhiều hoa cho đủ một lớp mỏng dưới đáy.
Sau đó là việc tỉ mỉ hơn: tìm những bông hoa mới hé, cánh còn khép hờ, lúc nhuỵ bên trong đang ẩm và sẵn sàng nhận phấn. Người làm dùng đầu bút chấm vào lọ phấn rồi luồn qua khe cánh hoa, quét nhẹ vào nhuỵ. Mỗi bông hoa chỉ mất vài giây, nhưng một cây na có rất nhiều hoa và một vườn có hàng trăm cây, nên công việc kéo dài nhiều buổi sáng liên tiếp trong mùa hoa.
Vì sao phải làm lúc sáng sớm? Theo kinh nghiệm người trồng, khi trời còn mát và ẩm, nhuỵ hoa nhận phấn tốt; lúc nắng lên, đá nóng, hoa khô đi, phấn khó bám. Họ cũng tránh những ngày mưa vì phấn bị nước cuốn trôi. Người làm lâu năm nhìn một bông hoa là biết nó đã tới lúc hay chưa, và chỉ cần một vài tuần sau, những quả na tròn đều, không méo lệch sẽ cho thấy buổi sáng nào đã làm đúng.
Việc thụ phấn tay không phải bí quyết của riêng vùng nào, nhưng ở Chi Lăng nó gắn với địa hình: người làm phải leo giữa đá, đứng chênh vênh trên những phiến đá trơn để với tới cành hoa. Đó là lý do mùa hoa na cũng là mùa người trồng mỏi chân nhất.
Người trồng na: từ nương ngô sang vườn đá
Trước khi na thành cây chủ lực, nhiều gia đình ở vùng núi đá Chi Lăng sống nhờ ruộng lúa thung lũng và nương ngô, nương sắn trên sườn đá, năng suất thấp, đất xói mòn sau mỗi mùa mưa. Theo lời kể của người trong vùng, có những hộ thử trồng vài cây na trong hốc đá, thấy cây sống khoẻ, quả ngọt, bán được giá, rồi hàng xóm học theo. Dần dần cả sườn núi chuyển sang na.
Trồng na trên núi đá là việc nặng. Đất phải gùi lên từng hốc, phân chuồng cũng vậy; nước tưới mùa khô phải dẫn bằng ống từ khe suối hoặc chở lên. Lối đi trong vườn là những phiến đá trơn, người hái na phải leo trèo giữa các khối đá với sọt trên lưng. Không có máy móc nào làm thay được những việc này.
Người Tày, Nùng và người Kinh trong vùng cùng làm vườn na, học kinh nghiệm của nhau qua những mùa được và mất. Họ biết cây nào già cần cắt tỉa trẻ hoá, vườn nào cần bao quả, năm nào nên để cây nghỉ bớt. Cây na trên núi đá đã đổi cuộc sống của nhiều gia đình, và cũng biến những sườn đá trơ trụi thành một màu xanh khi nhìn từ đường lớn.
Nhận ra quả na ngon bằng mắt và tay
Mắt na. Quả na chín các mắt chuyển từ xanh đậm sang xanh nhạt, kẽ giữa các mắt chuyển màu trắng ngà hoặc vàng nhạt. Na bở chín thì mắt hơi tách ra.
Độ mềm. Ấn nhẹ thấy hơi mềm là quả đã chín ăn được. Quả cứng đanh là còn xanh, cần để thêm vài ngày; quả mềm nhũn, vỏ thâm đen là chín nẫu.
Cùi. Cùi trắng ngà, dày, ít hạt, không có mùi chua. Na dai cùi thành từng múi tách rời, na bở cùi mềm dính vào nhau.
Mùi. Quả chín có mùi thơm ngọt rõ, nhất là ở phía cuống. Mùi chua, mùi lên men là quả để quá lâu.
Vỏ và cuống. Quả na hái đúng độ già có cuống còn tươi, vỏ không thâm đen từng mảng. Na rụng, na bị sâu đục thường có chấm đen, vết thối lan từ mắt vào trong. Quả méo lệch nhiều thường do thụ phấn không đều, cùi một bên có thể ít.
Hạt. Hạt na đen, cứng, không ăn. Hạt na chứa chất độc với côn trùng và có thể gây hại cho người nếu nghiền ra; không nhai hạt, không để nhựa hạt dính vào mắt.
Người Lạng Sơn ăn na và mùa na của vùng
Cách ăn na đơn giản nhất là ăn tươi: na dai bóc vỏ cầm tay ăn từng múi, nhả hạt; na bở bẻ đôi dùng thìa xúc. Na ngon nhất khi vừa chín tới, để ở nhiệt độ phòng; na để lạnh lâu thì vỏ thâm. Nhiều người Lạng Sơn chọn quả xanh già mang về để chín tự nhiên vài ngày, vì như vậy chủ động được lúc ăn.
Na còn được làm sinh tố, kem, trộn sữa chua, nhưng với người địa phương, những cách đó là của thành phố. Ở vườn, bữa trưa của người hái na có khi chỉ là cơm nắm và mấy quả na chín nẫu không bán được. Mùa na là mùa bận rộn: sáng sớm hái, trưa phân loại, chiều chở ra đường hoặc giao cho thương lái.
Những năm gần đây, na Chi Lăng được nhiều người biết đến, trồng thêm ở nhiều vườn, và cũng như mọi sản vật nổi tiếng khác, đối diện với chuyện giá lên xuống theo mùa, quả từ nơi khác mang tên Chi Lăng. Người trồng na nhắc đi nhắc lại một điều: na chỉ ngon đúng mùa, vào giữa hè và đầu thu, khi sườn núi đá Chi Lăng nắng nóng nhất.
Câu hỏi thường gặp
Na Chi Lăng chín vào tháng mấy?
Thường từ khoảng tháng Bảy tới tháng Chín dương lịch, rộ nhất vào giữa mùa. Có vườn cho quả sớm hơn hoặc muộn hơn tuỳ giống và cách chăm sóc. Ngoài khoảng thời gian này, na bán dưới tên Chi Lăng có thể từ vùng khác.
Na dai và na bở khác nhau thế nào?
Na dai có mắt to dẹt, cùi chắc, dai, bóc vỏ được, để lâu. Na bở mắt lồi, chín thì mắt nở ra, cùi mềm mọng, phải bẻ đôi ăn bằng thìa, mau nẫu. Cả hai đều ngọt thơm, mỗi loại có người thích riêng.
Vì sao na trồng trên núi đá lại ngon?
Người trồng cho rằng đất đá vôi thoát nước nhanh, nắng nhiều, đá giữ nhiệt giúp quả cùi chắc, ngọt đậm. Đây là kinh nghiệm lâu năm, phù hợp với hiểu biết chung về cây ăn quả trồng trên đất thoát nước, đủ nắng.
Có nên ăn hạt na không?
Không. Hạt na chứa những chất độc với côn trùng và có thể gây hại cho người nếu nhai nát hoặc nghiền ra. Khi ăn nên nhả hạt. Không dùng hạt na giã nát để bôi hay để trẻ nhỏ nghịch, tránh để dính vào mắt.
Mua na xanh về thì để chín thế nào?
Để quả ở nơi thoáng mát, nhiệt độ phòng, tránh nắng trực tiếp, vài ngày quả sẽ mềm dần. Không để tủ lạnh khi quả còn cứng vì quả sẽ khó chín và vỏ thâm. Khi quả hơi mềm, kẽ mắt chuyển màu nhạt là ăn được.
Thụ phấn bổ sung cho na là gì?
Hoa na có nhuỵ và phấn chín lệch nhau nên tự thụ phấn kém. Người trồng thu phấn từ hoa đã tung phấn rồi dùng chổi nhỏ quét vào nhuỵ của hoa khác, thường vào sáng sớm. Cách này giúp quả đậu nhiều hơn và tròn đều hơn.